Bệnh teo cơ xơ cứng một bên là gì?

Rate this post

Teo cơ xơ cứng một bệnh (ALS) là gì?

Bệnh xơ cứng teo cơ một bên, còn được gọi là bệnh Luger hoặc bệnh thần kinh vận động, là một bệnh thần kinh cơ mãn tính. Nó tấn công các tế bào của hệ thần kinh và các kết nối giữa các tế bào của não và tủy sống.

Tế bào thần kinh vận động cơ là những tế bào thần kinh lớn nhất, kéo dài từ não đến tủy sống và từ tủy sống đến các cơ của cơ thể. Khi các tế bào thần kinh vận động này chết đi, não sẽ mất khả năng khởi động và điều khiển hoạt động của cơ trong cơ thể.

Bệnh Amyotrophic bên có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp. “A” có nghĩa là không thể hoặc không thể. “Myo” có nghĩa là cơ bắp, “dinh dưỡng” có nghĩa là “nuôi dưỡng” và “không nuôi dưỡng cơ bắp”. Nếu các cơ không được nuôi dưỡng sẽ bị teo và xấu đi. Các tế bào thần kinh nuôi dưỡng cơ nằm ở khớp háng (bên ngoài), nơi quyết định phần tủy sống của con người. 

Khu vực này bị phá hủy dẫn đến xơ hóa và cứng lại. Khi ngày càng có nhiều dây thần kinh và cơ bị ảnh hưởng, những người mắc ALS sẽ mất khả năng di chuyển và nhai và nuốt. ALS thường không ảnh hưởng đến các giác quan (xúc giác, vị giác, khứu giác, v.v.), bàng quang và đường tiêu hóa, hoặc ham muốn và chức năng tình dục. 

Bệnh xơ cứng teo cơ một bên cuối cùng dẫn đến tử vong do liệt cơ hô hấp, các biến chứng hô hấp (như viêm phổi hít), hoặc các biến chứng bất động khác. Mặc dù bệnh không thể hồi phục, những việc chẩn đoán sớm rất quan trọng đối với bệnh nhân và gia đình họ vì phục hồi chức năng và điều trị sớm có thể kéo dài chất lượng cuộc sống tích cực.

Ai dễ bị ALS?

 Hơn 20.000 người ở Hoa Kỳ mắc ALS. Khoảng 6.000 người Mỹ mới được chẩn đoán mắc ALS mỗi năm. Các triệu chứng thường xuất hiện ở những người trong độ tuổi từ 40 đến 70. Bệnh nhân sống trung bình 35 năm sau khi được chẩn đoán mắc bệnh, nhưng khoảng 10% số người bị bệnh có thể sống trên 10 năm.

Triệu chứng

Bệnh xơ cứng teo cơ một bên, còn được gọi là bệnh Lugeric hoặc bệnh thần kinh vận động, là một  bệnh  thần kinh cơ mãn tính. Nó tấn công các tế bào của hệ thần kinh và các  kết nối giữa các tế bào của não và tủy sống.

Tế bào thần kinh vận động cơ là những tế bào thần kinh lớn nhất, kéo dài từ não đến tủy sống và từ tủy sống đến các cơ của cơ thể. Khi các tế bào thần kinh vận động này chết đi, não sẽ mất khả năng khởi động và điều khiển hoạt động của cơ trong cơ thể. 

Bệnh Amyotrophic bên có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp. “A” có nghĩa là không thể hoặc không thể. “Myo” mang nghĩa là cơ bắp, “dinh dưỡng” nghĩa là “nuôi dưỡng” và “không nuôi dưỡng cơ bắp”. Nếu các cơ  không được nuôi dưỡng sẽ bị teo và xấu đi. Các  tế bào thần kinh nuôi dưỡng cơ  nằm ở khớp háng (bên ngoài), nơi quyết định phần tủy sống của con người.

Khu vực này bị phá hủy dẫn đến xơ hóa và cứng lại. Khi ngày càng có nhiều dây thần kinh và cơ  bị ảnh hưởng, những người mắc  ALS sẽ mất khả năng di chuyển và  nhai và nuốt. ALS thường không ảnh hưởng đến các giác quan (xúc giác, vị giác, khứu giác, v.v.), bàng quang và đường tiêu hóa, hoặc ham muốn và chức năng tình dục.

Bệnh xơ cứng teo cơ một bên cuối cùng dẫn đến tử vong do  liệt  cơ hô hấp, các biến chứng hô hấp (như viêm phổi hít), hoặc các biến chứng  bất động khác. Mặc dù bệnh  không thể hồi phục, những việc chẩn đoán sớm rất quan trọng đối với bệnh nhân và gia đình họ vì phục hồi chức năng và điều trị sớm có thể kéo dài chất lượng cuộc sống tích cực. 

Chẩn Đoán Teo Cơ Xơ Cứng Một Bên

Các công việc chẩn đoán

Hỏi bệnh teo cơ xơ cứng một bên:

  • Khu trú vào khai thác các triệu chứng yếu cơ và các triệu chứng kèm theo, tính chất khởi phát và diễn tiến nặng dần, cần thiết hỏi thêm về tiền sử gia đình.
  • Các triệu chứng tổn thương hành não: đầu tiên nhận thấy bệnh nhân nói một số từ khó hoặc nuốt nghẹn trong bữa ăn…

Khám lâm sàng và lượng giá chức năng.

Khám vận động:  Các triệu chứng của tổn thương nơron vận động trên và dưới.

*  Triệu chứng tổn thương nơron vận động trên:

  • Yếu hay liệt chi (yếu xu thế động tác gập chi trên và duỗi ở chi dưới).
  • Tăng trương lực cơ kiểu tháp (khi ở trạng thái nghỉ mà các cơ bị căng hơn mức bình thường).
  • Tăng phản xạ gân cơ.
  • Phản xạ bệnh lý tháp.
  • Mất phản xạ da bụng.
  • Có thể biểu hiện teo cơ mức độ nhẹ.

 *  Triệu chứng của tổn thương nơron vận động dưới

  • Yếu hay liệt chi.
  • Giảm trương lực cơ.
  • Giảm hay mất phản xạ gân cơ.
  • Không có phản xạ bệnh lý tháp.
  • Không mất phản xạ da bụng.
  • Teo cơ mức độ rõ ràng.
  • Rung giật bó cơ.

* Tác động tứ chi gây yếu liệt chi trên hoặc chi dưới, rối loạn vận động vùng hầu họng gây ra chứng khó tiêu, khó nuốt. Khi bệnh tiến triển nặng, người bệnh khó nhai, thở gấp, khó nuốt nước bọt, ho yếu và run cơ lưỡi, teo mô cơ lưỡi, teo cơ chi trên và chi dưới, các triệu chứng ít thường có. tính chất đối xứng. Khám cảm giác

Không bao giờ có giảm cảm giác hoặc mất cảm giác 

Trường hợp nổi bật với các rối loạn cảm giác thì cần phải tìm nguyên nhân bệnh lý khác gây yếu cơ, hoặc một bệnh lý khác kèm theo.

Các triệu chứng khác

Hội chứng hành não hoặc hội chứng liệt giả hành não: Khi bệnh tiến triển nặng, xuất hiện triệu chứng tổn thương nhân dây thần kinh XII, IX và X hoặc hội chứng liệt giả hành não.

Biểu hiện tổn thương dây thần kinh IX, X là người bệnh sẽ bị nói ngọng, nuốt nghẹn, sặc, màn hầu sa thấp, lưỡi teo nhăn nhúm, vận động lưỡi bị nhiều hạn chế không thể thè dài lưỡi ra ngoài được.

Vì vậy mà nhai và nuốt rất khó khăn, khi nói những âm cần vận động lưỡi bệnh nhân sẽ nói rất khó khăn, giọng đơn điệu và ở mức độ nặng bệnh nhân không còn phát âm được, hàm dưới bị trễ xuống, miệng hoàn toàn không ngậm kín lại được, nước dãi luôn chảy ra và khi nhai rơi cả cơm ra ngoài.

Khi tổn thương lên nhân dây vận động dây V ở cầu não thì sẽ xuất hiện teo các cơ nhai và giảm sức nhai.

  • Ở giai đoạn muộn của bệnh có biểu hiện khó thở do yếu các cơ hô hấp (cơ ngực, cơ liên sườn và cơ hoành), nhịp tim chậm, có thể xỉu và ngưng thở, tim ngừng đập do tổn thương nhân dây thực vật X.
  • Không có các dấu hiệu rối loạn hệ thần kinh thực vật, rối loạn cơ vòng, rối loạn liên quan thị giác
  • Có thể thấy biểu hiện rối loạn tâm thần như thay đổi cảm xúc, dễ khóc, cười vô cớ, giảm sút trí nhớ nặng.

Các xét nghiệm cận lâm sàng

Chưa có xét nghiệm đặc hiệu nào có thể chẩn đoán xác định bệnh xơ cột bên teo cơ. Các xét nghiệm này chủ yếu giúp loại trừ các bệnh liên quan khác.

Những xét nghiệm thường quy 

  • Công thức máu, Điện giải đồ, Creatinin, Transaminase, Đường huyết…không nhận thấy thay đổi gì rõ rệt, có thể có xuất hiện rối loạn chuyển hoá pyruvat.
  • Xét nghiệm trong nước tiểu: sẽ có các dấu hiệu tăng bài tiết creatinin và giảm creatinin trong nước tiểu.

Các xét nghiệm hỗ trợ chẩn đoán x

Dịch não tuỷ:  Các trường hợp phổ biến xét nghiệm dịch não tủy sẽ thấy bình thường, một số  rất ít trường hợp có biểu hiện hơi tăng protein.

Điện cơ (EMG): cung cấp rõ bằng chứng chẩn đoán và sẽ góp phần vào việc loại trừ các bệnh lý khác có liên quan cùng các biểu hiện lâm sàng gần như là tương tự, trong trường hợp nếu không có bằng chứng điện cơ rõ ràng, thì sẽ có thể lặp lại sau 6 tháng.

  • Biểu hiện trên điện cơ kim gây mất phân bố thần kinh cấp hoặc mãn tính ít nhất ở 3 trong các vị trí vùng sọ, ngực, thắt lưng-cùng, cổ. Khi không co cơ biểu hiện điện thế rung sợi cơ, khi co cơ đạt tối đa điện cơ sẽ có biểu hiện giảm số lượng đơn vị vận động, tăng biên độ và kéo dài bước sóng điện thế của đơn vị vận động.
  • Đo tốc độ dẫn truyền giúp phân biệt một số bệnh lý khác triệu chứng gần giống như bệnh thần kinh cảm giác, bệnh thần kinh vận động đa ổ

Sinh thiết cơ:

Sinh thiết cơ là teo các sợi cơ như teo cơ do các bệnh thần kinh ngoại vi khác, với cùng biểu hiện: teo, thoái hoá những sợi cơ trong bó cơ những sợi cơ đều bị thoái hoá, không xen lẫn sợi cơ bình thường, nhưng có bó cơ không thoái hoá xen  lẫn bó cơ bị thoái hoá. Không có rối loạn cấu trúc của sợi cơ, không lẫn các tổ chức xơ và mỡ vào các cơ.

Vài xét nghiệm thực hiện khi lâm sàng biểu hiện gần giống:

  • MRI góp phần giảm các bệnh lý gây hại não hay tủy sống . Chụp MRI có thể thấy tăng tín hiệu ở tuỷ sống và thân não (hình ảnh T2), teo thùy trán não.
  • Các xét nghiệm về sinh hóa như chức năng tuyến giáp, Creatine kinase, định lượng nồng độ Vitamin B12, giang mai thần kinh, định lượng kháng thể kháng thụ thể Acetylcholin cần thực hiện

Chẩn đoán xác định

Chẩn đoán xác định chủ yếu dựa vào bệnh cảnh lâm sàng: yếu và teo cơ, rung giật các bó sợi, có hội chứng nơron vận động trên, quá trình phát triển nặng  (hội chứng hành não), không giảm hoặc mất cảm giác.

Kết hợp với điện cơ và sinh thiết cơ để chẩn đoán phân rõ với các bệnh lý khác có teo cơ. Chẩn đoán xác định dựa theo tiêu chuẩn El Escorial sửa đổi.

Chẩn đoán xác định dựa vào lâm sàng: dấu hiệu tổn thương nơron vận động trên, dưới ở 3 vị trí khác nhau.

Chẩn đoán xác định dựa vào lâm sàng và xét nghiệm hỗ trợ: 

  • Dấu hiệu tổn thương nơron vận động trên hoặc dưới ở 1 vị trí, đồng thời có hiện diện gen đột biến gây bệnh.
  • Dấu hiệu gây hư tổn nơron vận động trên dưới ở 2 vị trí, và đi theo triệu chứng do tổn thương nơron vận động trên phải ở phía trên triệu chứng do thương tổn nơron vận động dưới.

Theo chẩn đoán đa số khả năng dựa trên lâm sàng và xét nghiệm hỗ trợ: Triệu chứng tổn thương nơron vận động trên tối thiểu 1 vị trí, và dấu hiệu do tổn thương nơron  vận động dưới  2 vị trí trên EMG.

Chẩn đoán thể lâm sàng:

Có thể chia thể lâm sàng dựa vào các cách khởi phát bệnh như: thể khởi phát bệnh teo cơ kiểu Aran – Duchenne, thể bại nửa người, thể bại hai chi dưới, thể hành não, thể di truyền gia đình.

Chẩn đoán phân biệt

  • Bệnh lý cơ tiên phát (như bệnh loạn dưỡng cơ tiến triển).
  • Các bệnh khác về tủy sống và não như: xơ não tuỷ rải rác, liệt cứng hai chân gia đình, viêm sừng trước tủy sống mạn tính tiến triển, thoái hoá cột sống chèn ép các rễ thần kinh cổ, hốc tuỷ, thiểu năng tuần hoàn não hệ động mạch sống nền, u tuỷ cổ và giang mai thần kinh….
  • Một số bệnh  biểu hiện lâm sàng gần giống nhau, mà các triệu chứng đặc biệt là yếu cơ như bệnh dây thần kinh vận động đa ổ (Multifocal motor neuropathy), tổn thương rễ hoặc dây thần kinh ngoại biên, biểu hiện thần kinh trong bệnh lý tuyến giáp, thiếu vitamin B12, bệnh nhược cơ, bệnh cơ…

Tai biến mạch não hay chấn thương sọ não.

Chẩn đoán nguyên nhân

Cơ chế bệnh sinh chưa biết rõ, tuy nhiên một số thì có liên quan đến đột biến gen, 5-10% trường hợp có tính chất di truyền gia đình. Một vài nghiên cứu chỉ ra rằng xơ cứng cột bên teo cơ có các cơ chế sinh học chung với bệnh Alzheimer, Parkinson và một số bệnh thoái hóa thần kinh khác.

Phục hồi chức năng và điều trị

Nguyên tắc phục hồi chức năng và điều trị 

Nâng tầm chất lượng đời sống của bệnh nhân với chữa trị triệu chứng, tập hồi phục chức năng, chăm sóc người bệnh.

Điều trị đặc hiệu

Thuốc đối vận Glutamate:

Riluzole (thuốc được FDA Hoa Kỳ chấp thuận chính thức sử dụng): liều 100mg phân 2 lần trên 1 ngày, khuyến cáo sử dụng sớm khi vừa có chẩn đoán xác định, chữa trị trong 1,5 năm, duy trì thời gian sống của bệnh nhân thêm đặc biệt là với bệnh nhân đã có dấu hiệu liệt hầu họng (ăn nghẹn, uống sặc)

Khi dùng loại thuốc này phải theo dõi chức năng gan định kỳ vì thuốc có thể tác động đến gan.

Lựa chọn tế bào gốc để chữa trị bệnh còn trong giai đoạn đang nghiên cứu.

Những giải pháp và kỹ thuật giúp hồi phục chức năng

Vật lý trị liệu

  • Chỉ định cho người bệnh và người chăm sóc những bài tập giúp kéo giãn và tập theo tầm vận động hàng ngày.
  • Khuyên bệnh nhân, người nhà làm theo phương pháp di chuyển một cách an toàn và hiệu quả để không tốn nhiều năng lượng.
  • Những bài tập giúp tăng sức mạnh cơ bắp và tăng sức bền của cơ nên được thực hiện thấp hơn ở mức tối đa của cơ mà không làm yếu cơ và chỉ nên chỉ định cho những bệnh nhân có quá trình tiến triển chậm. Bài tập với cường độ vừa đủ và chuyên biệt dành cho mỗi người bệnh.
  • Các kỹ thuật viên cần dự liệu trước nhu cầu của người bệnh và sử dụng thêm các dụng cụ hỗ trợ nẹp như: AFO, nẹp KAFO… và xe lăn đúng thời điểm.

Hoạt động trị liệu

  • Chỉ cách cho người bệnh  và người chăm sóc những kỹ thuật giúp bảo tồn năng lượng.
  • Những dụng cụ hỗ trợ thích ứng nên được hướng dẫn sử dụng sớm và phải phù hợp cho các nhu cầu  tiến triển của người.

Ngôn ngữ trị liệu

  • Các kỹ thuật viên ngôn ngữ trị liệu cần dạy bệnh nhân bị tổn thương hành não cách  để làm giảm tốc độ lời nói và phát âm to hơn để giúp người chăm sóc hiểu. Đối với người bệnh bị suy hô hấp, kỹ thuật viên sẽ dạy từng câu đơn giản để bệnh nhân đỡ lao lực.
  • Những bài giúp tăng lực của lưỡi dưới hàm và những bài luyện cơ hoành để giúp cải thiện cách phát âm và tạo ra tiếng.
  • Trong trường hợp người bệnh và người chăm sóc đã có sẵn cách giao tiếp của riêng họ (cử chỉ), nên động viên họ tiếp tục sử dụng chúng một cách hiệu quả.
  • Đưa ra các dụng cụ hỗ trợ giao tiếp như bảng giao tiếp, chữ viết hay công nghệ hỗ trợ từ vi tính.
  • Ở bệnh nhân khó nuốt do tổn thương hành não, kỹ thuật viên ngôn ngữ trị liệu thực hiện xem xét hầu họng để lượng giá các triệu chứng lâm sàng của khó nuốt. Tiến hành nội soi hầu họng là việc quan trọng cần làm để nhận định các vấn đề đặc biệt trong những lần nuốt khác nhau. Kỹ thuật viên chỉ cách tập nuốt, thay đổi độ rắn, mùi vị và nhiệt độ của thức ăn để hỗ trợ nuốt và phòng ngừa hít dị vật.

Điều trị hỗ trợ:

Điều trị các dấu hiệu nhằm nâng cao chất lượng đời sống.

Chữa trị chứng tăng chảy nước bọt (Sialorrhea): do có nhiều hạn chế trong việc nuốt nước bọt một cách bình thường, sử dụng Amitriptyline liều 25-50mg, ngày dùng 2-3 lần hay những thuốc có tác dụng giúp kích thích hệ thần kinh trung ương ( Methylphenidate).

Chữa trị chứng co cứng cơ: sử dụng Baclofen đường uống  khoảng 80mg một ngày, có thể kết hợp Dantrolene, Tizanidine, Benzodiazepine, Clonidine. Trong một số trường hợp co cứng nặng, toàn cơ thể gây đau đớn hoặc hạn chế chức năng nhiều, dùng thuốc uống như trên sẽ không có hiệu quả hoặc mức độ thu nạp kém với liều lượng cao, nên xem xét cấy bơm ngoài màng cứng Baclofen.

Co cứng nặng gây hạn chế trong một số nhóm cơ riêng có thể chữa trị bằng bế phong thần kinh hoặc các điểm vận động bằng phenol hoặc botulinum toxin.

Điều trị chứng rung giật bó cơ: Ở những bệnh nhân có dấu hiệu rung giật nặng, sử dụng benzodiazepine có thể sẽ có hiệu quả.

Chữa trị đau:

  • Đau trong một số trường hợp là do chứng co thắt cơ, co rút hoặc gây cho các cơ chế sinh cơ học của khớp bị thay đổi. Cách chữa trị thứ nhất là thuốc acetaminophen và những thuốc nhóm NSAID.
  • Trong một số trường hợp đau do nguồn gốc của các dây thần kinh: các loại thuốc chống động kinh hay thuốc chống trầm cảm 3 vòng cũng được khuyên dùng cho dạng đau này.

Quan tâm đến hệ hô hấp: đa phần người bệnh tử vong đều có liên quan đến biến chứng trên hệ hô hấp do yếu các cơ hô hấp hoặc cơ hầu họng một cách trầm trọng.

  • Thông khí cơ học duy trì thì quan trọng cho việc mở khí quản, hút đờm dãi.
  • Cải thiện hô hấp như: thông khí áp lực dương ngắt quãng không tiến hành xâm nhập, thông khí áp lực qua ổ bụng ngắt quãng…
  • Thở Oxy.
  • Nên được đo dung tích sống khi khám bệnh trong trường hợp các cơ hô hấp suy yếu.

Dấu hiệu trầm cảm, lo âu hay mất ngủ:

Việc nhận biết sớm các dấu hiệu rối loạn tâm lý là rất cần thiết, cho phép việc can thiệp phù hợp để hỗ trợ giúp cho người bệnh và người chăm sóc.

Những loại thuốc chống trầm cảm nhóm ức chế chọn lọc tái hấp thụ Serotonin (SSRIs) sẽ hay được sử dụng phổ biến nhất, các loại thuốc chống trầm cảm 3 vòng được xem như là một lựa chọn hàng đầu sau lựa chọn thứ nhất.

Tâm lý điều trị: Có thể riêng lẻ hoặc phối hợp với thuốc.

Dinh dưỡng

Trong trường hợp yếu những nhóm cơ vùng hầu họng làm cho người bệnh ăn uống khó khăn dẫn tới sút cân, suy dinh dưỡng, vì thế cần được động viên sử dụng các thực phẩm chứa nhiều calo, thực phẩm mềm.

Nếu là những thức ăn đặc thì nên làm lỏng bằng cách dùng thêm nước trước khi nuốt, khi loạn nuốt nên đặt sonde mũi-dạ dày nuôi ăn, nghiên cứu mở nội soi dạ dày qua da khi tình trạng bệnh nhân bị rối loạn nuốt kéo dài.

Theo dõi và tái khám

Chỉ định bệnh nhân quay lại tái khám cách 3 tháng một lần, xếp lịch tái khám sẽ có thể ngắn hơn khi tình trạng bệnh tiến triển xấu hơn, trong đợt tái khám đánh giá tình trạng hô hấp, các dấu hiệu khác như chảy nước bọt quá mức, co cứng cơ, thay đổi cảm xúc cùng tình trạng dinh dưỡng từ đó đánh giá nên tư vấn mở nội soi dạ dày qua da để nuôi ăn hay không? …..

Riluzole thuốc làm chậm quá trình teo cơ

Dược Lý và Cơ Chế Hoạt Động của Riluzole

Trong trường hợp giả định sẽ gây độc kích thích về thoái hóa thần kinh đã thu hút nhiều người quan tâm đến khả năng sử dụng các hợp chất sẽ ngăn khỏi quá trình gây độc để điều trị các rối loạn thần kinh. Riluzole là một loại thuốc bảo vệ thần kinh, ngăn ngừa sự dẫn truyền thần kinh glutamatergic trong hệ thần kinh trung ương.

Riluzole ức chế sự giải phóng axit glutamic từ các tế bào thần kinh đã được nuôi cấy, từ các lát não và từ các tế bào thần kinh thể vân vỏ não in vivo. Theo như nghiên cứu cho rằng những tác động này một phần có khả năng được cho là do sự bất hoạt của các kênh natri phụ thuộc điện thế ở các đầu tận cùng thần kinh glutamatergic, cũng như kích hoạt con đường truyền tín hiệu phụ thuộc protein G.

Riluzole cũng ngăn chặn một số tác dụng sau synap của axit glutamic bằng cách phong tỏa không cạnh tranh các thụ thể N-methyl-D aspartate (NMDA). 

Riluzole có tác dụng bảo vệ thần kinh, chống co giật và an thần. Trong một mô hình động vật gặm nhấm về thiếu máu não thoáng qua toàn cầu, người ta đã quan sát thấy sự ức chế hoàn toàn sự giải phóng axit glutamic gia tăng do thiếu máu cục bộ gây ra.

Trong ống nghiệm, riluzole bảo vệ các tế bào thần kinh được nuôi cấy khỏi bị tổn thương do thiếu oxy, tác dụng độc hại của chất ức chế hấp thu axit-glutamic và khỏi thành phần yếu tố độc hại trong dịch não tủy của bệnh nhân bị xơ cứng teo cơ một bên.

Hiệu Quả của Riluzole đối với Bệnh Nhân Teo Cơ Xơ Cứng Một Bên

Đa phần những nghiên cứu dân số so sánh bệnh nhân ALS có dùng riluzole và bệnh nhân ALS không dùng có riluzole chỉ ra sự khác biệt đáng kể về thời gian duy trì sự sống trung bình giữa hai nhóm này, dao động từ 6 đến 19 tháng.

Riluzole giúp kéo dài thời gian sống của người bệnh đặc biệt nhất là với bệnh nhân đã có dấu hiệu liệt hầu họng (ăn nghẹn, uống sặc).

Liệu Trình chữa Trị Riluzole Kết Hợp Vật Lý Trị Liệu

Riluzole (thuốc được FDA Hoa Kỳ chấp thuận chính thức sử dụng): uống 50mg riluzole/lần, ngày dùng 2 lần, lời khuyên là nên sử dụng sớm khi đã có chẩn đoán xác định, điều trị trong 1.5 năm.

Phần Vật Lý Trị Liệu đã được chỉ rõ ở trên, phần “II. Phục Hồi Chức Năng và Điều Trị”.

Hình ảnh thuốc Rilutek 50mg Riluzole

  • Tên thương hiệu: Rilutek 50mg.
  • Thành phần hoạt chất: Riluzole.
  • Nhóm thuốc: Thuốc trị teo cơ.
  • Hãng sản xuất: sanofi aventis (PHÁP) Hàm lượng: 50mg.
  • Dạng: Viên nén.
  • Đóng gói: Hộp 56 viên nén.
  • Giá Thuốc Rilutek: Gọi cho 0933049874 để mua thuốc chính hãng.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

0933049874Chat NhaThuocOnline